bia đá vô tri giờ đây có nghĩa gì đâu
Thay thế những câu chữ trên bia mộ là điều chưa thấy ai nhắc đến trong số bao cựu binh, bao thân nhân liệt sĩ mà tôi có dịp cùng đi, có dịp trò chuyện".
Vô cảm là thái độ thờ ơ, không có cảm xúc gì trước các sự vật, hiện tượng xung quanh, trước nỗi đau khổ, bất hạnh của người khác. Đây là thái độ, là cách sống tiêu cực đáng phê phán vì nó trái ngược với truyền thống đạo đức nhân ái, vị tha đã có từ bao
Giá trị sống là một điều vô cùng đáng quý và ý nghĩa trong cuộc đời người. Dưới đây là 12 giá trị sống được Unesco công nhận. 1. Hòa bình. Hiện tại, xã hội đã vắng bóng chiến tranh. Vì vậy hòa bình ở đây là thái độ sống hòa nhã, không thù ghét. Ngoài ra, thái
Nét tướng '2 lõm, 3 lồi' của đàn bà tưởng xấu mà hút lộc phong thủy. Nhiều người có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩa của câu đầu tiên, đàn ông sợ ba mươi là chuyện hết sức bình thường. Người đàn ông bình thường khi 30 tuổi phải lập gia đình, lập nghiệp. Đó
Hắt xì hơi 1 cái: Theo ý nghĩa tâm linh, hắt xì hơi 1 lần được cho rằng là có ai đó nhắc đến bạn. Họ có thể là bạn bè, đồng nghiệp, người thân khi đang nói về một chủ đề nào đó liền nhắc đến bạn. Hắt xì hơi 2 cái: Hắt xì hơi 2 cái là điềm gì? Đây là
Dating Seiten Für Menschen Mit Behinderung. Hiện tại chắc hẳn bạn sẽ thấy từ “vô tri” xuất hiện khá thường xuyên. Vậy vô tri là gì? Nhiều người thích sử dụng cụm từ này nhưng có thể chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa của nó. Hôm nay sẽ giải đáp cho bạn vô tri là gì cùng ý nghĩa của vô tri mà nhiều người đang sử dụng hiện nay thông qua bài viết dưới đây nhé. Tóm tắt1 Vô tri là gì?2 Sống vô tri là gì?3 Vô tri là gì trong Phật Pháp Để có thể hiểu vô tri là gì, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích từng thành phần cấu tạo nên từ này nhé. Vô nghĩa là không, còn tri là hiểu biết. Vậy nên vô tri là không có sự hiểu biết, thiếu hiểu biết, không có kiến thức. Nhắc đến những thứ vô tri chúng ta hay nói về cây, cỏ, đất, đá,… Vì đây là những vật thể không hề có khả năng nhận biết. Gương mặt vô tri Thế còn người vô tri là gì? Người bị cho là vô tri là những người không có khả năng suy nghĩ, xem xét và giải quyết vấn đề. Người vô tri không biết bản chất cuộc sống, đau khổ, hạnh phúc hay sự xoay vần của cuộc sống. Người vô tri cũng chính là những người không có tư duy, hay hỏi những câu hỏi vô tri, ngớ ngẩn. Sống vô tri là gì? Nhiều người sử dụng cụm từ vô tri thường gắn trước một hành động cụ thể ví dụ như “cười vô tri”, “phát ngôn vô tri”,… Ý họ muốn nói ở đây là những hành động đó không có ý nghĩa gì, không có gì đáng cười cũng cười, cũng nói khiến cho người khác không hiểu được. Kiều Minh Tuấn và những pha cười vô tri Một ví dụ minh họa cho điệu cười vô tri được nhiều người nhắc đến là diễn viên Kiều Minh Tuấn trong show thực tế 2 ngày 1 đêm. Bởi vì sau những tràng cười của anh trong show, nhiều khán giả đã nói rằng đó là cười vô tri. Dù không có miếng hài nào rõ ràng anh đã cười lăn cười bò. Sự vô tri của Tuấn nặng đến mức nhiều khán giả đã có hẳn một câu ngắn gọn để miêu tả bộ đôi anh em Lê Dương Bảo Lâm và Kiều Minh Tuấn là “Chỉ cần Dương Lâm dám nói thì Kiều Minh Tuấn sẽ dám cười”. Thông thường bạn bè thân thiết sẽ thường hay trêu chọc nhau sau khi một người phát ngôn lạc đề, hỏi những câu ngớ ngẩn khiến người khác không hiểu đang nói gì là “sao mà mày vô tri quá”, “con nhỏ này thật là vô tri”,… Thực ra vô tri ở đây ý muốn nói là nói rằng người đó không có hiểu biết, không suy nghĩ nhiều trước khi nói. Vậy nên nếu người nào nói rằng bạn thật vô tri thì hãy chú ý nhé, vì đó có thể không đơn thuần là một câu trêu đùa đâu. Nhân sinh quan là gì? Ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo đến người Việt Vô tri là gì trong Phật Pháp Theo giáo lý của Đạo Phật, con người ta đều được tạo nên bởi ngũ uẩn gồm có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Trong đó Sắc là phần thân, về những yếu tố sinh lý. Thọ là cảm giác, xúc giác. Tưởng chính là tri giác. Hành là các hiện tượng tâm lý được khởi phát gồm vui, buồn, giận, ghen tị, thương, ghét bỏ. Thức là nơi chứa những cảm thọ và tri giác, ngoài ra thức có chức năng cất giữ nên thức còn được gọi là tàng thức. Vô tri trong Đạo Phật Trong Kinh Pháp Cú, Phật đã dạy rằng tư duy và nhận thức của con người vô tri luôn hướng về ái dục, vì vô tri đôi khi sẽ là chính mình tự che đi sự thật. Vô tri thường gắn liền với tà kiến. Chỉ có tuệ giác chân thực, tức là phải có sự tư duy mới có thể phân biệt và thấy rõ được những bản chất vô thường, khổ, không, vô ngã và từ đây con người có thể ly khai dục, đoạn trừ khổ não. Vậy là bài viết trên đã tổng kết những những nội dung về vô tri là gì, ý nghĩa của vô tri trong cuộc sống và trong Phật Giáo được nhiều người sử dụng. Hãy cùng tìm hiểu thêm nhiều bài viết thú vị khác nhé.
Lượt xem Tiên học lễ – Hậu học văn Về trường hợp nghiên cứu điển hình Việt Nam trong tư duy biện chứng pháp Hình 1 Ảnh minh họa Tiên học lễ – Hậu học văn Trong khi thế giới đang tiến vào thời kỳ duy vật, tất cả sự vật đều được định đoạt bằng các giá trị số hóa… Hình 2 Cặp Samsonite Việt Nam đã tiến vào Năm châu – Năm bể không theo cách xách tay chiếc cặp Samsonite ngày vừa qua hình 2, hay đeo vai xâu tiền ngày trước hình 3 – mà lại là một phong thái ẩn dấu một chuỗi cung cứng năm giá trị tình tự Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín. Có gì phải hỗ thẹn khi năm giá trị ứng xử trong xã hội lòai người đã kết tụ được cả ba dòng tư tưởng Tam giáo đồng nguyên như chiếc vạc đồng xây dựng nên bộ quy tắc ba chân Nho – Phật – Đạo của phương Đông. Đến thời cận hiện đại – Việt Nam mở cánh cừa tư duy để gọi thêm dòng tôn giáo mới từ phương Tây đến mà đúc nên đỉnh đồng bốn chân để tạo hình Tứ Giáo Đồng Trụ Nho – Phật – Đạo – Kitô. Tất cả đã đứng vững trên nền tảng văn hóa Việt Nam để trở thành một trường hợp nghiên cứu điển hình trong hệ tư tưởng nhân loại như một hình mẫu Tứ Đại Đồng Đường được soi rọi qua chiếc gương thiên văn số hóa vạn vật trong Năm châu – Năm bể. Nếu cuộc bút chiến thứ nhất 32 – 45 đã làm rõ bản thể nghệ thuật vị nhân sinh, hay nghệ thuật vị nghệ thuật, lấy phong trào thơ mới để đắp lên cơ thể văn thơ trong Tàng thư các – thì cuộc bút chiến thứ hai này lại nổ ra văn đàn nhằm làm rơi rụng hay ít ra cũng làm rung lắc mặt trước của bảng hiệu Tiên học lễ –Hậu học văn. Nếu trước đây dùng ngòi bút để chiến đấu trong Thế giới nhật trình để phục vụ công chúng văn học chữ La-tinh – thì cuộc chiến đấu lần này qua thuật đám mây để phục vụ công chúng số hóa vạn sự Internet of things. Chúng tôi đang có mặt trong thế giới số hóa đó. Nếu các cuộc thế chiến thay vì đổ máu – cuộc bút chiến đã đổ mực. Hình 3 Vác tiền Ký họa của Henri Oger – Kỹ thuật người An Nam1908 – 1909 tại Hà Nội. trích trong Luận án tiến sĩ Sử họccủa nhà nghiên cứu Nguyễn Mạnh Hùng xx x Mở đầu cuộc chiến tại Ủy ban Văn hóa giáo dục của Quốc hội– tổ chức ngày 21/11 Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Ngọc Thêm hình 4 đã có mặt Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Ngọc Thêm Hình 4 Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Trần Ngọc Thêm – Ảnh KT – Theo Giáo sư – để cho xã hội phát triển – thì điều quan trọng là cần phải có con người sáng tạo – mà để có được con người sáng tạo thì trước hết phải có con người chủ động. Để có con người chủ động cần phải loại trừ 1. Tính thụ động ở người dưới – Theo giáo sư đó là học trò, con cái. 2. Tính áp đặt ở người trên – Đó là thầy cô, cha mẹ. – Theo giáo sư Cần bắt đầu từ việc thay đổi quan niệm là không sử dụng những cách biểu đạt mang tính thụ động như Con ngoan trò giỏi. – Theo giáo sư Ngoan – theo nghĩa “dễ bảo” – Vâng lời theo nghĩa “thuộc bài”. – Giáo sư đưa một bộ quy tắc ứng xử được số hóa Ba cần, Hai nhằm, Ba chống. Ba cần gồm có 1. Cần thực hiện dân chủ trong giáo dục. 2. Cần thay đổi quan niệm về sự sáng tạo của mình. 3. Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu Tiên học lễ – Hậu học văn hình 5. Hình 5 Khẩu hiệu “Tiên học lễ – Hậu học văn” – Ảnh minh họa. Hai nhằm gồm có 1. Nhằm khai mở tư duy phản biện. 2. Nhằm giải phóng sức sáng tạo. – Để được thênh thang trên con đường giáo dục. Giáo sư đề ra “ba cách chống” – trong đó có hai chống triệt để 1. Chống việc nhồi nhét kiến thức. 2. Chống việc học thuộc lòng. – Giáo sư còn bổ sung hai thay đổi. Đó là 1. Thay đổi quan niệm về cách biên soạn sách giáo khoa. 2. Thay đổi cách ra đề thi kèm theo đàn áp. – Ngoài ra, giáo sư còn đề xuất mạnh mẽ hơn nữa – Đó là phải dứt điểm cách học bài mẫu. – Cuối cùng, giáo sư đi đến kết luận Ba không + Một là không đề cao chữ lễ để ràng buộc người học. + Hai là không đề cao quá mức vai trò của người Thầy, của đáp án, + Ba là không bóp nghẹt tư duy phản biện để làm đứt gãy công cuộc xây dựng tiến bộ xã hội – để tư duy phản biện được rộng đường để xã hội được phát triển. Ngay lập tức – sấm ngôn của giáo sư Trần Ngọc Thêm đã có làm rung lắc dòng tư duy truyền thống qua một số ý kiến trái nghịch nhau – chấp nhận cũng như từ chối 1. PGSTS Lê Quý Đức hình 6 – Nguyên Phó Viện trưởng Viện Văn hóa và Phát triển Học viện Chính trị quốc gia – bày tỏ ý kiến với VOVVN qua bài tham luận của Giáo sư Trần Ngọc Thêm. Hình 6 PGSTS Lê Quý Đức Đồng tình với quan điểm của Giáo sư Trần Ngọc Thêm qua cảm nhận từ ba hoàn cảnh xã hội 1. Bước vào thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 2. Thúc đẩy phát triển đất nước bằng trí thức. 3. Cần giáo dục con người có óc sáng tạo, có tư duy sáng tạo, phản biện. Ông phủ định Tư duy truyền thống xưa kia từng bảo hộ tinh thần, cấu kết cộng đồng. Ông đề cao 1. Thái độ ứng xử hiện đại. 2. Tự khẳng định giá trị và lợi ích bản thân mà không vì chủ nghĩa ích kỷ, vị kỷ. 3. Sáng tạo cá nhân. PGSTS Lê Quý Đức vừa ủng hộ vừa bổ sung sự cần thiết cần có hai phải 1. Phải đưa ra triết lý giáo dục mới. 2. Phải để cá nhân tự khẳng định vai trò của mình mới có thể tự do, dân chủ. PGSTS Lê Quý Đức không đồng tình mà đút kết thành ba đừng 1. Đừng khuôn chữ Lễ vào phạm vi hẹp. 2. Đừng hiểu Lễ theo cách hiểu truyền thống. 3. Đừng phê phán chữ Lễ – theo ba khuôn đúc nên hình mẫu Trò nghe lời Thầy – trò chịu sự áp đặt của Thầy – trò chịu khuất phục trườc quyền lực của Thầy. Cuối cùng, theo PGSTS Lê Quý Đức kết luận – Nếu bỏ chữ Lễ – tức là xóa bỏ chức năng trồng người của văn hóa. – Cần giữ lại Tiên học lễ – Hậu học văn. – Lễ và Văn – hài hòa trong văn hóa giáo dục. Theo Nguyễn Trang/ 2. Ý kiến GSTS Vũ Minh Giang hình 7 – Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo Giáo sư – Giáo dục có hai yêu cầu cơ bản Hình 7 GSTS Vũ Minh Giang Một là dạy cho người học thành người “bốn có” 1. Có nhân cách, đạo đức, ứng xử – 2. Có tri thức – 3. Có kiến thức – 4. Có học vấn. GSTS Vũ Minh Giang góp thêm dòng tư tưởng hồi niệm Sau đổi mới – từ năm 1986 “Tiên học lễ – Hậu học văn” hình 8 đã đưa ra khẩu hiệu dẫn vào trường học. Hình 8 Khẩu hiệu “Tiên học lễ – Hậu học văn” – Ảnh Phan Châu Trưởng Giáo sư dẫn chứng giáo dục nguồn tư liệu từ bên ngoài – Đài Loan cho học trò đeo Logo trên ngực 6 chữ Hán được giáo sư phiên âm bằng quốc ngữ – mà Viện nghiên cứu Việt Nam học xin phép được “đính thêm” chữ Hán để độc giả nhận được mặt chữ Lễ 禮; Tiêu 標 ; Lạc 樂; Ngự 禦 ; Tri 知;Thức 識 Theo Thùy Linh/ 3. Theo GSTS Nguyễn Minh Thuyết hình 9 – tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông 2018. Theo giáo sư “Tiên học lễ – Hậu học văn” bao hàm phạm trù đạo đức con người. Trước hết là phải học đạo đức làm người – do con người lấy đức làm gốc. Vì thế, khẩu hiệu “Tiên học lễ – Hậu học văn” vẫn còn phù hợp. Hình 9 GSTS Nguyễn Minh Thuyết 4. Theo GSTS Phạm Tất Dong hình 10 – phó chủ tịch thường trực hội khuyến học Việt Nam – đề nghị ngành giáo dục Việt Nam nên xem xét lại vì khẩu hiệu “Tiên học lễ – Hậu học văn” không còn phù hợp với giáo dục hiện đại. Theo ông, hiện nay phát triển giáo dục mới cần có nhiều triết lý mới. Hình 10 GSTS Phạm Tất Dong 5. PGSTS Trần Xuân Nhĩ hình 11 – nguyên thứ trưởng bộ giáo dục và đào tạo – không đồng tình với GS Trần Ngọc Thêm. Theo giáo sư Đức là gốc cơ bản. Do đó, Lễ được hiểu là đức hạnh. Theo giáo sư – một bộ phận học thuật cho rằng “Lễ là bề trên nói, bề dưới răm rắp nghe theo” – như vậy là chưa đúng… Với bất kỳ thời đại nào “Tiên học lễ – Hậu học văn” đều hoàn toàn đúng. Hình 11 PGSTS Trần Xuân Nhĩ 4. Theo Tiến sĩ Phạm Văn Khanh – NGƯT – phó chủ tịch hội khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam – chủ tịch hội khoa học tâm lý giáo dục Tiền Giang; “ Quan niệm giáo dục nước ta đã được hình thành và phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng của nó trong thời kỳ phong kiến với nền giáo dục Nho học ở nước ta. Theo Tiến sĩ “Tiên học lễ – Hậu học văn” tiếp tục được duy trì trong nền giáo dục tân học, nền giáo dục theo mô hình phương Tây và lấy chữ quốc ngữ làm chữ viết chính thức. ảnh hưởng của quan niệm này đã suy yếu dần trong những thập niên gần cuối thế kỷ 20. xx x A. Những ý kiến của giới trẻ 1. Lê Trang Anh hình 12 – Sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hình 12 Sinh viên Lê Trang Anh. “Trước hết, tôi nghĩ ai cũng có quyền được bày tỏ quan điểm cá nhân, và Ngọc Thêm cũng vậy. Là một người làm nghiên cứu chuyên sâu, Giáo sư đã có những lập luận không hẳn không có cơ sở để đưa ra kiến nghị đó. Tuy nhiên, từ quan điểm cá nhân áp dụng vào thực tế là một câu chuyện dài, đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng và lấy ý kiến của nhiều cơ quan, tổ chức. Do đó, tôi nghĩ mọi người không nên quá khích hay có những lời lẽ công kích đối với Giáo sư và với đề xuất. Còn quan điểm của tôi, mặc dù tôi tôn trọng ý kiến của GS. Trần Ngọc Thêm, nhưng tôi không đồng tình với việc bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” trong môi trường học đường lúc này”… 2. Chu Quang Bằng hình 13, đang theo học Thạc sĩ ngành Quan hệ Quốc tế tại Trường Đại học Tổng hợp Liên bang Ural Liên bang Nga cho rằng, thay vì xóa bỏ khẩu hiệu, thì nên đề xuất thêm những khẩu hiệu mới nhằm tạo sự phát triển toàn diện của học sinh, sinh viên. Hình 13 Sinh viên Chu Quang Bằng. “Tôi cũng theo dõi những tranh luận xoay quanh thông tin về kiến nghị bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” của GS. Trần Ngọc Thêm. Trước khi là một du học sinh, tôi là một sinh viên trường Sư phạm trong nước, tôi thấy quan điểm của Giáo sư đưa ra chưa được hợp lý. “Tiên học lễ, hậu học văn” từ lâu đã trở thành văn hoá không thể thiếu của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong việc giáo dục con người. Khẩu hiệu như kim chỉ nam giúp định hướng sự phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức và lối sống. Học lễ nghĩa và văn hóa luôn đi liền với nhau, và là yếu tố không thể thiếu trong hành trình làm người…”. 3. Vũ Châu Giang Hình 14 Sinh viên Vũ Châu Giang. hình 14, Sinh viên theo học bộ môn Văn hóa và Ngôn ngữ Ả Rập của Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ủng hộ mục tiêu cần phát triển tư duy phản biện và sức sáng tạo của học sinh, sinh viên. Tuy nhiên, bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” để thực hiện điều này thì với Giang là chưa hợp lý “Đầu tiên, tôi thấy kiến nghị của Giáo sư cũng là một ý tưởng mới, táo bạo và có nhiều khía cạnh đúng đắn. Song, tôi nghĩ rằng chữ “lễ” trong “Tiên học lễ” không chỉ mang nghĩa của sự thụ động “dễ bảo, vâng lời”, mà “lễ” theo tôi hiểu bao hàm cả nền tảng đạo đức và văn hóa….”. 4. Vũ Hữu Hồng Quân hình 15 – Sinh viên ngành Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Hình 15 SV. Vũ Hữu Hồng Quân. Bởi “Tiên học lễ, hậu học văn” là một truyền thống từ xưa đến nay của dân tộc ta. Trước khi học kiến thức thì bản thân mỗi chúng ta cần phải học cách làm người, biết cách cư xử sao cho đúng mực. Nói bỏ “lễ” để để khai mở tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo là không hợp lý. Vì từ xưa đến nay, tuy chúng ta đề cao vai trò của người “thầy” Không thầy đố mày làm nên nhưng cũng ko tuyệt đối hóa vai trò của việc “học thầy” mà có câu nói “Học thầy không tày học bạn”… Theo Trang Anh /PLVN xx x B. Theo ý kiến đóng góp của độc giả 1. Độc giả Nhanphan100792 nêu quan điểm “Tiên học lễ hậu học văn’ là một câu nói nhằm nhắc nhở con người rằng, đạo đức là ưu tiên hàng đầu. Phản biện là điều cần thiết. Một con người có lễ nghĩa sẽ luôn kính trên, nhường dưới, luôn mong cho thế hệ sau giỏi hơn thế hệ trước, nhưng không bao giờ được quên công ơn của người đi trước, như câu Ăn quả nhớ kẻ trồng cây’… 2. Độc giả Quang Pham nhấn mạnh “Tôi không hiểu sao lại đề xuất bỏ khẩu hiệu này? Tiên học lễ, hậu học văn’ ở đây không thể hiểu gói gọn trong lễ nghĩa hay văn chương. Bản chất của nó là học làm người trước khi học làm nghề, học nhân cách trước khi học kiếm sống, học đạo trước khi học tri thức…” 3. Thạc sĩ Phan Thế Hoài – giáo viên Ngữ văn tại TP HCM – cho rằng nên hiểu chữ “Lễ” theo quan điểm hiện đại. Theo ông, Nho giáo và chữ Lễ không “trói buộc con người” như GS Trần Ngọc Thêm nêu quan điểm. Chữ “Lễ” cũng không phải là nguyên nhân sinh ra bệnh thành tích, trói buộc tư duy người học, người dạy như một số người khẳng định…” 4. Độc giả Hoai anh cho rằng Giữ “Lễ’ không có nghĩa là yếu đuối, thụ động. Người biết giữ Lễ’ là người có bản lĩnh, tự trọng và biết giá trị của mình. Tôi thấy các bạn sinh viên hoặc ứng viên trên sân khấu, truyền hình… thường nhầm lẫn khi thể hiện sự tự tin. Ở đây, tự tin không phải là xưng tôi’ với người lớn, không phải là nói lớn tiếng, hô hào. Tự tin đến từ người biết giữ Lễ’, chững chạc, ăn nói rõ ràng, thuyết phục. Người biết giữ “Lễ” trong mọi tình huống là người có sức mạnh nội tâm và kiên cường”. “Tiên học lễ hậu học văn là đúng trong mọi trường hợp. Học lễ ở đây là lễ nghĩa con người nói chuyện và đối đãi với nhau trước khi nói hoặc viết những lời hoa mỹ, văn chương…” Học lễ chính là học cách nói chuyện, cách đối nhân xử thế”. Độc giả Nhân Trần bổ sung. Tuy nhiên, độc giả Tuấn Nguyễn ủng hộ ý kiến Giáo sư Trần Ngọc Thêm – bỏ “Tiên học lễ, hậu học văn” vì chỉ mang tính khẩu hiệu, không thực tế “Phong cách giáo dục rất quan trọng, giáo dục bằng lời nói, bằng hành động cụ thể. Hiện nay, hình ảnh của người thầy, người cô đa phần đều khiến học sinh sợ hơn cha mẹ. Vậy nên, chúng ta cần bỏ bớt khẩu hiệu. Tôi thấy khắp nơi đều có khẩu hiệu, vừa tốn tiền của trong khi nhiều người còn không thèm đọc, không để ý tới…”. Muốn khuyến khích học sinh phản biện, không cần bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ hậu học văn” ra khỏi trường học mà người thầy phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Đó là nhận định của độc giả PhongNg “Tôi nghĩ không nên bỏ khẩu hiệu này Nhưng nền giáo dục nói chung và các thầy cô nói riêng nên có một cái nhìn đúng đắn, chính xác hơn về lễ nghĩa, đạo đức của học sinh…” Theo Việt Thành / xx x C. Những ý kiến độc giả 1. Độc giả Phạm Tuệ Nhi Đừng phủ nhận hoàn toàn những giá trị cốt lõi tốt đẹp! “Tiên học lễ, hậu học văn”, theo cách hiểu của tôi, chính là quan điểm giáo dục truyền thống, xem trọng việc bồi dưỡng đạo đức, góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp cho người học. Dù chịu ảnh hưởng từ Nho giáo nhưng “Tiên học lễ, hậu học văn” không hề cũ mà ngược lại vô cùng cần thiết trong xã hội hiện tại… Cái “lễ” tuỳ thuộc vào hoàn cảnh xã hội và đặc trưng văn hóa của từng quốc gia mà có những quy tắc riêng nhưng nhìn chung đều là gốc rễ và cội nguồn của giáo dục toàn cầu. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” không hề gây cản trở đến sự phát triển của tư duy phản biện, khai mở sự sáng tạo mà ngược lại còn góp phần hỗ trợ và nâng đỡ về tinh thần, giúp học sinh vững vàng hơn trong quá trình tiếp thu tri thức… 2. Độc giả Phạm Văn Chung Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” không chỉ là quan điểm lễ nghĩa Nho giáo mà đã được bổ sung các giá trị tiến bộ của thời đại, phù hợp với từng bậc học, cấp học… Lễ nghĩa ở đây cần phải hiểu đó chính là đạo đức. Đối với con người, đạo đức là gốc, là nền tảng. Vì vậy, không nên bỏ sử dụng khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” mà nên phát triển, bổ sung, sáng tạo tùy thuộc vào ngành học, cấp học cho phù hợp… 3. Độc giả Mai Nhung Hãy nâng niu và lan tỏa câu khẩu hiệu “ Tiên học lễ, hậu học văn”!… 4. Độc giả Lê Đức Đồng Chữ “Lễ” có tầm rất quan trọng. Gần 40 năm dạy học, làm công tác quản lý, tôi vô cùng ngạc nhiên về quan điểm “Cần chấm dứt sử dụng khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” để khai mở tư duy phản biện, sáng tạo”. Theo tôi, đừng đổ lỗi cho câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” tạo ra những con người thụ động, ít tư duy phản biện, bởi thực tế do nhiều nguyên nhân khác như chương trình học, phương pháp dạy học, bệnh thành tích… Thực tế, biết bao câu chuyện về chữ “Lễ”, về tinh thần “tôn sư trọng đạo” gây cho người đọc nhiều cảm xúc, suy nghĩ… Chuyện kể rằng ông Francois Sadi Carnot, nguyên Tổng thống nước Pháp, nhân một lần về thăm quê nhà, khi đi ngang qua trường làng, trông thấy người thầy dạy mình lúc bé vẫn còn đứng lớp, đã đến trước mặt thầy giáo cũ, lễ phép “Chào thầy, con là Carnot, thầy còn nhớ con không?”. Rồi ông nói với những học trò nhỏ “Tôi trước là mang ơn cha mẹ, sau ơn thầy đây. Nhờ thầy chịu khó dạy bảo, tôi mới làm nên sự nghiệp ngày nay“. Chữ “lễ” có tầm rất quan trọng, tạo nên nhân cách con người. Xin đừng nhân danh phản biện, nhân danh này khác mà đòi bỏ câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Theo Huỳnh Hiếu /NLD xx x C. Ý kiến của phụ huynh Chị Trần Thị Hồng phụ huynh ở Can Lộc – Hà Tĩnh “đồng ý phải đề cao tư duy phản biện, giải phóng sức sáng tạo, nhưng không tán thành việc xóa bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”. Theo chị, hai yếu tố này không mâu thuẫn, không nhất thiết chọn cái này thì phải bỏ cái kia, chúng phải bổ khuyết cho nhau, tạo nên nền tảng để con người tiến tới sự hoàn thiện. “Lẽ nào học trò không chào thầy cô, không học lễ nghĩa mới là đổi mới, sáng tạo hay sao?” Theo Hà Cường/ Một số ý phát biểu thêm của cộng đồng xã hội còn được gi nhận trên diễn đàn thông tin điện tử qua mạng xã hội 1. Phạm Tuệ Nhi quận 11, Phần lễ, đạo đức càng cần thiết trong xã hội hiện đại. 2. Nghiên cứu sinh Phan Văn Hồng Thắng Không rèn phần “lễ” thì khác gì tạo ra robot 3. Tiêu Nhi Thừa Thiên Huế Đầu tiên cần phải học lễ nghĩa Tuổi trẻ online. Viện nghiên cứu Việt Nam học xin phép được sơ kếtnguồn thông tin số hóa như trên để phục vụ công chúng./. xx x Ban Tu thư Thánh địa Việt Nam học đang tiếp tục cập nhật Phần 2. Quý độc giả đóng góp ý kiến cho bài viết “Tấm bảng vàng bia đá – trong cơn rung lắc; Tiên học lễ – Hậu học văn“, xin gửi về Ban Tu thư theo địa chỉ email bantuthu1965 để góp phần xây dựng Website Thánh địa Việt Nam học ngày càng phong phú. xx x Trong lúc Quý độc giả chờ đợi bài viết “Tiên học lễ – Hậu học văn” – phần tiếp theo,Ban Tu thư xin trích giới thiệu trong Bốn bộ sách Tết, bài viết sau XIN TRI ÂN Quý Ân nhân ẩn danh đã tài trợ cho tôiđược ấn hành Bộ sách Tết nhũ vàng này ———– Xin cảm ân Quý Ân nhân, Quý Cô Chú, Quý Bạn Bè Anh Em trong nước, ngoài nước – đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình từ sau ngày Ba mươi Tháng tư Năm bảy mươi lăm. Từ đó, tôi được học tập, nâng cao nhận thức theo tư duy duy vật biện chứng pháp để có được chỗ đứng trong xã hội. Ngày ấy, từ vai trò một “giáo viên cơ nhỡ”, tôi đã thành một thầy giáo chính thức của Đại học – được phép góp phần kiến tạo nên Hệ Đại học không chính quy – tiền thân của Hệ Đại học Dân lập, Tư thục, Quốc tế ngày nay từ những năm 1984–1985. Sau này, tôi được làm Hiệu trưởng một trường Đại học kể từ ngày xin sáng lập vào năm 1992 đến ngày được phép hoạt động chính thức – năm 1997 – Và được làm Hiệu trưởng suốt 18 năm từ 1997 – 2015. Quý Ân nhân đã giúp tôi trở lại với vai trò hoạt động văn hóa giáo dục – mà cho tôi được làm Viện trưởng Viện nghiên cứu Việt Nam học. Quý Bạn bè Anh em đã giúp đỡ tư liệu và chỉnh sửa văn pháp, ngữ pháp của tôi cho phù hợp với văn phong, phong cách Việt Nam học truyền thống và hiện đại. Xin góp ý sửa chữa để Bộ Sách ngày càng hoàn thiện hơn. Xin tri ân! Xin đội ân Quý Lãnh đạo, Quý Phụ huynh, Quý Thầy Cô, Quý Anh Chị Em làm việc, phục vụ, cùng nhiều thế hệ sinh viên tại Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng trong suốt thời gian tôi chịu trách nhiệm. Cuối cùng, xin khoanh tay cúi đầu chào nhiều thế hệ sinh viên Đại học Quốc tế Hồng Bàng – để xin tha lỗi cho tôi chưa làm tròn trách nhiệm một Hiệu trưởng trên con đường dẫn dắt các em, các cháu đến một nước Việt Nam tương lai đầy triển vọng trên bước đường vào thời kỳ Duy vật để chào đón thời kỳ Hậu Duy vật. Xin tha lỗi cho tôi vì tôi không đủ sức đi hết đi hết con đường giáo dục cho đến cuối đời. Tôi may mắn được đi tiếp trên con đường Việt Nam học với ơn trợ giúp của Thánh thần và Quý Ân nhân. Kính Viện trưởng Nguyễn Mạnh Hùng Phó Giáo sư Tiến sĩ Sử học Thánh Địa Việt Nam Học Kính mời Quý độc giả xem tiếp PHẦN 2 Bảng vàng bia đá “Tiên học lễ – Hậu học văn” như đang đứng trước vành móng ngựa Qua cuộc trò chuyện cuối năm PHẦN 3 Cuộc trò chuyện tiếp – Lần 2
Nguồn Tập san ĐA HIỆU số 118 – tháng 1/2020 Triều đại nào rồi cũng qua đi, con người nào dù tài giỏi đến đâu đi nữa rồi cũng mất. Chỉ có lịch sử là không thể mất, cũng không vơi đi mà ngược lại, càng ngày số bài vở bổ túc cho lịch sử càng nhiều hơn, càng phong phú hơn. Vì lịch sử có nhiệm vụ ghi chép lại những sự kiện — ở mỗi triều đại, mỗi giờ, mỗi ngày, hàng năm, hàng thế kỷ, liên tục nối tiếp nhau — xảy ra không ngừng nghỉ theo thời gian. Trong đó còn có cả hình ảnh, chứng tích, và di tích cần lưu lại cho hậu thế. Dĩ nhiên, muốn làm việc này một cách đứng đắn, cẩn thận, chúng ta phải nhờ đến bàn tay/ khối óc của các sử gia chuyên nghiệp, có đức tính luôn tuyệt đối trung thực trước lịch sử. Khi thực thi nhiệm vụ, sử gia không thêm, không bớt, không tuỳ tiện khi ghi chép, hoặc sửa đổi hình ảnh. Một việc làm rất khó khăn, vì các sử gia, ngoài việc bị ảnh hưởng bởi chính kiến hay định kiến, tôn giáo, hay truyền thống gia đình của riêng mình, còn bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp bởi nhà cầm quyền đương thời, đặc biệt là nhà cầm quyền ở thời quân-chủ chuyên-chế và thời Cộng-Sản là những thời mà những tâm tình, và dòng suy tư của con người thường bị cướp đoạt một cách vô tội vạ, bị vo tròn bóp méo theo một định hướng’ bắt buộc, cực kỳ tàn nhẫn. Những sử gia trong các chế độ này muốn trung thực với chính mình cũng đã khó, chứ đừng nói là phải trung thực trước lịch sử. Nhà viết sử nổi tiếng vào thời vua Hán Vũ Đế của nước Tàu là ông Tư Mã Thiên 145-86 trước Công Nguyên được người đời hết sức ca tụng về đức tính khẳng khái và trung thực. Lịch sử nước Tàu đã ghi lại, trong một trận đánh giữa quan quân nhà vua với rợ Hung Nô, vào thời đó có 2 vị tướng được đề cử cùng cầm quân ra trận, có tên là Lý Lăng và Lý Quảng Lợi. Không may trong trận đánh này cả 2 ông đều bị thua trận. Khi phân tích nguyên nhân, thì phần đông các quan cận thần và nhà Vua đều đổ lỗi cho tướng Lý Lăng; chỉ riêng ông Tư Mã Thiên đổ lỗi cho tướng Lý Quảng Lợi và bênh vực cho Lý Lăng. Vì Lý Quảng Lợi là anh vợ của vua Hán cho nên sử gia họ Tư đã bị gán vào tội khi quân’. Kết quả, ông đã bị kết án lăng trì’ là tội tử hình, rồi sau đó được đổi thành tội thiến’. Tuy không bị chết, nhưng bị thiến’ là một hình phạt dã man và nhục nhã nhất vào thời đó, vì người đàn ông không còn khả năng sinh con đẻ cái để nối dõi, một tội rất nặng đối với tông đường của dòng họ mình. Nhưng thà là bị hành hình như thế chứ Tư Mã Thiên nhất định không thể nói sai sự thật. Sự kiện này cho thấy, quan điểm của số đông người tức đa số trong nghị viện ở vào giai đoạn lịch sử nào đó chưa chắc đã là chân lý! Trong xã hội Cộng Sản, các ứng cử viên được đảng cử dân bầu’ rồi được tuyển chọn trong các cuộc bầu cử, được gọi là dân chủ’, giới bình dân gọi là cà chớn’. Họ thường đạt tỷ lệ 99% phiếu bầu cũng là một kết quả bất khả tín, có cùng một ý nghĩa xấu tương tự quyền lực trong chế độ độc tài đồng nghĩa với chân lý!? o O o Nhìn lại cuốn Lịch Sử Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam’ được ra đời lúc gần đây đã phần nào chứng minh cho những khó khăn của các nhà viết sử vừa nêu trên. Trước khi và ngay cả sau khi phát hành cuốn sách này, những khó khăn về sự thống nhất phần nội dung của cuốn sách đã là nguyên nhân của sự chia rẽ trầm trọng giữa các Cựu Sinh Viên Sĩ Quan xuất thân từ cùng một quân trường. Những định kiến của từng cá nhân hoặc của từng nhóm không thể nào phá bỏ được, nếu họ không tự nguyện cùng tôn trọng một quy tắc làm việc chung. Chúng ta không có một phương hướng nào khả dĩ hóa giải được những bất đồng trước và sau khi sự kiện xảy ra; từ đó, đã làm xấu đi bộ mặt truyền thống lâu đời. Thật đáng tiếc! Trường Võ Bị tọa lạc trên đồi 1515 ở Đà-Lạt là phần hình thức, nay đã bị địch xóa bỏ. Còn cuốn sách Lịch Sử Trường Võ Bị’ là phần nội dung, trong đó châm ngôn “Tự Thắng Để Chỉ Huy” mới thật sự có ý nghĩa, xứng đáng là tấm bia đáng truyền tải cho thế hệ mai sau, và cũng là châm ngôn đáng ghi nhớ dành cho những ai muốn chỉ huy người khác. Vấn đề chính cần quan tâm ở đây, trước hết vẫn là vấn đề tự thắng’, các đề mục khác chỉ là phụ. Ngược về thời tiền sử, con người còn ăn lông ở lỗ’, chưa có phương tiện ghi chép, vả lại cũng chưa có khái niệm về lịch sử; cho nên khi cần phải giữ lại điều gì quan trọng, người ta thường truyền miệng, từ miệng người này sang miệng người kia liên tục từ đời này sang đời khác, để nói cho nhau nghe, hiểu, và để cho mọi người cùng biết những gì thiết thực trong cuộc sống cần ghi nhớ, cần giữ lại, được gọi là bia miệng’. Dần dần, con người tiến đến việc sử dụng bia đá’ để ghi nhớ những điều cần nhớ. Các quan chức nổi tiếng về tài, đức, được ghi tạc tên tuổi vào đá để hậu thế tôn thờ hoặc để ghi ơn công đức. Ngay cả những người một thời lều chõng’ lên đường đến kinh đô để tham dự kỳ thi tranh giải trạng nguyên’; nếu vượt qua kỳ thi, thì cũng được ghi tên vào bảng vàng bia đá’. Thế nhưng có một điều gì đó khá đặc biệt, cho nên sau nhiều biến chuyển của lịch sử, trong dân gian ở nước ta mới có câu “Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.” Nghĩa là bia miệng’ có phần còn nặng ký hơn cả bia đá’ gấp 10 lần. Rồi sau đó, có lẽ tiền nhân ta muốn khuyên răn người đời muốn làm việc gì đó khó khăn mà muốn thành công thì trước hết phải rèn luyện đức tính kiên nhẫn, nên mới có câu nước chảy đá mòn’ tương tự như có công mài sắt có ngày nên kim’ nhưng đồng thời cũng có nghĩa đen ngụ ý, ngay cả bia đá’ cũng có thể bị nước làm xói mòn và mất đi; chứ bia miệng’ là do miệng lưỡi con người tạo ra, rồi truyền tải cho nhau, thì không có cách gì làm mòn được, và nó sẽ còn mãi mãi. Đúng vậy, miệng lưỡi con người là do Tạo Hóa sinh ra, ngay từ lúc bẩm sinh đã có một tố chất rất đặc biệt, không ai giống ai, cho nên một lời nói phát ra từ cửa miệng của một con người, vừa có lợi, và cũng có thể vừa có hại cho chính mình và cho người khác. Cái lưỡi không xương’ nên có thể nắn nót theo kiểu nào cũng được. Vì thế mà lời nói rất lợi/ hại có thể làm thay đổi quan điểm của người khác. Lời nói tốt có thể làm cho gia đình hạnh phúc. Lời nói xấu có thể khiến gia đình tan nát. Tiếng lành đồn xa và tiếng dữ cũng đồn xa; hoặc “Lời nói không mất tiền mua, Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau…”; đi đôi với lời khuyên “Phải uốn lưỡi 7 lần trước khi nói.” Tôi còn nhớ thời gian trong trại tù “cải tạo”, vào cuối năm 1979. Có một lần sau một ngày lao động vất vả — phá rừng ở vùng Tống Lê Chân, làm trại tù tự nhốt mình, và cuốc đất trồng rau xanh rất cực nhọc –người tù phải tập họp lại để nghe cán bộ quản giáo phê phán, và hắn ta tuyên bố -“Tuyệt đại đa số nà các anh có tinh thần nao động tích cực, rất đáng khen nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số chưa tốt, số đó không phải nà ít.” Một anh bạn cùng ở tù với tôi, ngay sau khi tan hàng, đã hỏi tôi -“Mày có hiểu gì không?” Tôi mỉm cười và lắc đầu để đáp lễ anh. Anh bạn tôi cũng mỉm cười theo. Một chuyện khác, mới đây Ngày 15 tháng 11 vừa qua, trong buổi Impeachment lần thứ hai lần thứ nhất xảy ra vào ngày 13 dành cho Tổng Thống Trump ở Capitol Hill; ông Adam Schiff của đảng Dân Chủ, Chủ Tịch Uỷ Ban Tình Báo Hạ Viện chủ trì việc Impeach, đã 6 lần dùng chiếc “búa KGB” đã một thời được sử dụng thuần thục ở Liên-Bang Sô-Viết, đập xuống bàn để cắt đứt lời nói của các dân biểu Cộng Hòa, mà có lẽ theo ông đoán nhận thì đối phương sắp phóng ra một lời nói có tác dụng sắc bén hơn lưỡi dao, sẽ đè bẹp tiếng nói của ông, làm ông mất mặt, cần phải ngăn lại ngay. Lúc đó tôi ngồi trước màn hình TV, thấy ngỡ ngàng! Quái thật! Tôi tự hỏi Tự Do, Dân Chủ được thể hiện ở ngay điện Capitol Hill dưới sự lãnh đạo của bà chủ tịch Hạ Viện Pelosi, sao mà lạ đời thế!? Tôi bèn liên tưởng đến trại tù ”cải tạo” của VC dành cho các sĩ quan “ngụy” trốn trại sau tù nhân bị nhận bản án bị nhốt vào container hoặc bị bắn, trước khi xử án! o O o Một lần lang thang trên net’, nhiều tin tức cho biết, bia đá — dấu mốc đầu tiên ở cổng Nam Quan phía Bắc Việt Nam đánh dấu việc phân định ranh giới giữa nước Ta và nước Tàu — tôi không biết chính xác là đã được tổ tiên ta xây dựng từ đời nào, mà nay đã mất. Thật đáng buồn! Nhưng rồi tôi lại tự an ủi, bia đá’ mất nhưng bia miệng’ vẫn còn “Nước Việt Nam ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau” tôi được học từ ngày mẹ dắt tay đến trường, đến nay vẫn còn nguyên vẹn, không thể mất. Bài ca từ thời tôi học lớp ba ở trường làng, thời mà cô/ thầy giáo được kính trọng như ông bà, cha mẹ. Và tôi đã được nghe cô giáo hát rồi cô bắt học trò cùng hát theo từng câu, từng chữ, không cần phải ghi chép “Nhà Việt Nam, Nam Bắc Trung sáng trời Á Đông, Bốn ngàn năm văn hóa đã đắp xây bao kỳ công, Người Việt Nam cân quắc bao anh hùng, Từng phen nức danh khắp trời Á Đông,…” Đến nay đã hơn 70 năm tôi vẫn còn nhớ được 4 câu đầu của bài ca. Mặc dầu ở tuổi măng non không hề biết xuất Xứ, cũng không hiểu được ý nghĩa của bài ca này; chỉ biết hát theo lời cô giáo như con vẹt học nói. Nhưng đến khi lớn lên, tìm hiểu, tôi mới nhận thức được tạm đủ về ý nghĩa của bài ca, và biết được tác giả là nhạc sĩ Thẩm Oánh. Tôi nghĩ, đây cũng là một thứ bia miệng’. Một số bạn cùng sống tuổi măng non thời Pháp thuộc trước 1954 ở miền Bắc, cùng lớp với tôi đều có những nét đồng dạng bia miệng’ cũng quan trọng không kém gì bia đá’, thậm chí còn có thể quan trọng hơn nhiều, vì lời nói hôm nay có thể rất khác với lời nói ngày mai mặc dầu cùng xuất phát từ một cửa miệng, về cùng một vấn đề. Đứng về phía tôn giáo, nếu bia miệng’ được sử dụng cho việc truyền tải những điều hay lẽ phải thì rất tốt, nhưng nếu nó biến thành khẩu nghiệp’ thì đây là một điều cần phải xa lánh. Còn nếu đứng về phía các chính trị gia thì dù là khẩu nghiệp’ cũng không đáng quan tâm, vì quyền lợi trên hết, quyền lợi cá nhân hay đất nước cũng vậy! Vấn đề còn lại là tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của mỗi người, muốn đứng về phía nào, tuỳ thích. Cũng lạ thật! Nếu nói về thời gian, đem so sánh chiều dài của Lịch Sử đã có từ hàng ngàn năm trước với chiều dài của một đời người, thì thật sự đời của một con người không đáng kể. Thế nhưng con người lại đóng vai chủ động trong việc hình thành Lịch Sử. Vậy thì con người có nên tin vào Lịch Sử không? -Xin thưa là còn phải tuỳ thuộc vào người viết lịch sử và người đọc lịch sử, không thể xác định ngay được là có’ hay không’. Con người không thể tồn tại cùng với chiều dài của lịch sử để thực hiện mong ước của mình. Vì con người bị giới hạn về thời gian, còn lịch sử thì vô tận, cho nên, mỗi lần lịch sử sang trang’ là một lần người đọc nghi ngờ về lịch sử. Người đọc sẽ tự hỏi, những gì vừa được ghi lại ở đây liệu có đáng tin cậy không?’ Đó chính là điều mà người đọc cần phải suy nghĩ trước một sự kiện lịch sử được sử gia ghi chép lại, cho dù là mới đây hay trước kia. Ví dụ Chắc chắn chẳng ai tin vào lịch sử do đảng viên Cộng Sản ghi chép, ngoại trừ những người thân của họ và những bạn trẻ sinh sau đẻ muộn trong xã hội Cộng Sản. Lịch sử viết về cuộc chiến tranh Việt-Nam kể từ 1945 đến nay do các sử gia tả phái người Mỹ ghi chép, họ vo tròn bóp méo theo ý mình, rồi được giảng dạy ở các trường đại học vẫn còn là vấn đề tranh cãi, sẽ chẳng bao giờ đi đến kết luận. Tuy vậy nó vẫn được truyền bá không cần biết đúng/ sai. Và thực tế đã cho thấy, những cuộc biểu tình phản chiến’ — trước đây, hoặc ngay bây giờ cũng vậy — của các sinh viên được bắt nguồn từ những sai lầm nghiêm trọng của lịch sử. Và lịch sử, như thế, trong hoàn cảnh đó đã không còn mang tính thuần tuý, nó đã biến thành phương tiện tuyên truyền ! cho dù là vô tình, hay cố ý. Nếu đem một sự kiện lịch sử ra chứng minh về điều mình muốn nói trong lúc sôi máu tranh luận, đôi khi càng làm cho lịch sử trở nên rối ren hơn. Nhưng chắc chắn trong số những rối ren đó phải có một sự thật hiện hữu đã chìm sâu trong dĩ vãng hàng chục năm, có khi hàng trăm năm, hoặc sâu hơn. Vậy thì ai là người có khả năng khám phá ra sự thật đó và thuyết phục được số đông. Một điều không dễ làm! Lúc ấy phải cần đến miệng lưỡi’ của những người vừa có tài thuyết phục, vừa hiểu biết sâu rộng về khoa học biện chứng, và các phương pháp thường dùng trong sử học, như loại suy, đối chiếu, mang tính rất chuyên môn của các sử gia chân chính, mới có thể giúp người khác nhận biết về sự thật lịch sử. Trước đây, khi còn trẻ chúng ta là những chiến sĩ cầm súng ngoài chiến trường, tuy biết rõ một số sự thật nhưng không có khả năng và cơ hội nghiên cứu, cũng như trình bày quan điểm của mình trước công chúng. Bây giờ, chúng ta là những người thua trận, đã mất tất cả! Thế rồi thời gian qua nhanh, những bế tắc càng ngày càng nới rộng hơn trong đời sống, vì tuổi già mau đến, vì trí nhớ bị lão hóa trầm trọng; lực bất tòng tâm’, cho nên phải nhờ đến bàn tay/ khối óc của các bạn trẻ, những người Mỹ gốc Việt đầy năng lực và đầy nhiệt huyết tiếp sức. Vấn đề đặt ra ở đây, không phải là thắng, thua mà là sự thật. Chúng ta đang sống trong xã hội văn minh có nền Tư Pháp đứng đắn thì cho dù sự thật có bị che đậy, lấp liếm bao lâu đi nữa, người ta vẫn có hy vọng tìm lại được; chỉ tiếc là quá trễ! Trần Kim Bảng – K20
Bia đá có lẽ đã quá quen thuộc với người dân Việt Nam từ xưa tới nay, một hình ảnh thân thuộc, dân dã đã đi sâu vào tâm trí của bao thế hệ người Việt. Cho tới nay, vẫn còn những tấm bia đá có niên đại hàng trăm năm về trước vẫn được lưu trữ bảo tồn cùng thời gian, như một bằng chứng lịch sử hào hùng của dân tộc. Có rất nhiều loại bia đá được lưu giữ như bia ghi danh, bia đá công đức, bia đá mộ liệt sỹ….. Để hiểu rõ hơn về bia đá hãy cùng tượng đá đẹp Xuân Mạnh tìm hiểu qua bài viết sau đây nhé! Mục lục1. Ý nghĩa của bia đá nét đẹp văn hóa người ViệtKhái niệm về bia đá bia mộ đáÝ nghĩa của bia đá bia mộ đá trong đời sống2. Những loại nguyên liệu đá dùng làm bia đá tốt nhấtBia mộ đá Ninh BìnhBia mộ đá hoa cương đá granite3. Phân loại những mẫu bia đá phổ biến hiện nayMẫu bia đá ghi công đứcMẫu bia đá dùng để ghi danhMẫu bia mộ liệt sĩ bia mộ liệt sĩ bằng đáMẫu bia đá trên lưng rùaMẫu bia mộ đá gia đình4. Vị trí đặt bia mộ đá đúng phong thủy, kích thước của bia mộ đá5. Kết luận Khái niệm về bia đá bia mộ đá Bia đá là vật phẩm có dạng khối hình chữ nhật Bia đá là vật phẩm có dạng hình khối chữ nhật, về mặt được làm phẳng, nhẵn mịn. Toàn bộ được chế tác trực thủ công từ đá tự nhiên nguyên khối. Tùy vào yêu cầu của khách hàng mà phần mái của bia sẽ được làm cong mềm mại hoặc để vuông thành sắc cạnh, có điêu khắc hoa văn hay chỉ điêu khắc thông tin. Bia có kích thước chiều cao gấp từ 2-3 lần chiều rộng, được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Trên bề mặt của bia đá thường được khắc chữ hoặc chạm khắc kiểu chữ nổi. Có thể trang trí những hoa văn tinh tế, riêng biệt tô điểm thêm vẻ đẹp và nét riêng cho bia đá. Ý nghĩa của bia đá bia mộ đá trong đời sống Trong văn hóa tâm linh của người Việt thì bia đá, bia mộ đá mang ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nó là thứ giúp cho người sống nhớ được những thông tin của người đã khuất, là cầu nối giữa tổ tiên với con cháu nhiều đời sau, kết nối giữa người âm và người dương. Mộ phần của gia đình có tốt, đòi hỏi bia mộ cũng phải chỉnh chu, đẹp đẽ thì người sống mới được an yên trong lòng, mới được may mắn. Một điều tối kỵ trong phong thủy chính là bia mộ xấu, nứt mẻ, hỏng hóc. Việc sử dụng bia đá trong cuộc sống đã có từ rất lâu, trải qua bao thế hệ bia đá vẫn tồn tại nguyên vẹn. Thực tế việc sử dụng bia đá rất đa dạng, có thể dùng để ghi công của những người anh hùng xả thân vì dân tộc, bia đá dùng đánh dấu biên giới lãnh thổ, bia đá để ghi danh những người hiền tài, đỗ đạt khoa cử, hay bia mộ bằng đá…… Tùy vào từng mục đích sử dụng mà người thợ sẽ làm ra những tấm bia đá có kích thước và kiểu mẫu khác nhau, sao cho phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng. Không biết bia đá đã xuất hiện và tồn tại từ bao giờ trong đời sống người dân Việt Nam, nhưng từ xưa tới nay đã xuất hiện rất nhiều dấu tích của bia đá của người tối cổ cũng như người xưa để lại. Ở thời phong kiến xưa kia, chủ yếu sử dụng bia đá cho mục đích ghi danh phong sắc. Ngày nay khi cuộc sống có nhiều thay đổi, xã hội phát triển, bia đá được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Nhiều nhất vẫn là tại các công trình di sản văn hóa, di tích lịch sử quốc gia cho tới các bia mộ gia đình. 2. Những loại nguyên liệu đá dùng làm bia đá tốt nhất Hầu hết bia đá đều được làm từ đá tự nhiên nguyên khối Hầu hết các mẫu bia đá đều được làm từ đá tự nhiên nguyên khối, với nhiều loại đá khác nhau, đa dạng về màu sắc, kiểu dáng, kích thước. Bia mộ đá Ninh Bình Loại đá Ninh Bình này là đá tự nhiên được khai thác thủ công, là chất liệu phổ biến nhất để làm bia mộ. Loại đá này phân bố chủ yếu ở Ninh Bình và Thanh Hóa, đá có màu xanh hay còn gọi là đá xanh Ninh Bình. Loại đá này được dùng rất nhiều trong các sản phẩm tâm linh, bởi độ bền cao, khả năng chịu lực tốt, tuổi thọ đá có thể lên tới hàng trăm năm, gìn giữ và bảo quản vô cùng đơn giản. Bia mộ đá hoa cương đá granite Đá hoa cương hay còn gọi là đá granite là loại đá được lựa chọn làm bia mộ nhiều nhất hiện nay. Đây là loại đá có độ bền tốt, lại có độ bóng đẹp mà các loại đá khác khó lòng so được. Điểm đặc biệt hơn là đá hoa cương rất đa dạng về màu sắc nên có thể tạo ra được nhiều sản phẩm bia đá đẹp với kiểu dáng khác nhau. 3. Phân loại những mẫu bia đá phổ biến hiện nay Mẫu bia đá ghi công đức Đây có lẽ là mẫu bia đá được bắt gặp nhiều nhất trong đời sống mỗi người. Mẫu bia đá ghi công đức thường được sử dụng để ghi danh tên tuổi những người có ơn, có công lao, có đóng góp to lớn cho việc xây dựng, gìn giữ và bảo vệ những công trình có tầm vóc lịch sử, có giá trị bền vững dài lâu. Bia đá loại này thường đặt trong nhà thờ họ, từ đường, hay đình làng, đền thờ, miếu, chùa…… Mẫu bia đá dùng để ghi danh Bia đá ghi danh thường được đặt ở những khu di tich, khu danh lam thắng cảnh, khu du lịch. Ghi danh ở đây có thể là tên người hoặc tên địa điểm, tên loại cây cổ thụ, tên một loài vật linh thiêng…… Mẫu bia mộ liệt sĩ bia mộ liệt sĩ bằng đá Bia mộ đá tưởng niệm liệt sỹ Mẫu bia mộ liệt sĩ được làm bằng đá với mục đích ghi tên tuổi, những thông tin liên quan tới người đã mất là những anh hùng dân tộc đã anh dũng hy sinh giành lại độc lập tự do cho tổ quốc. Sở dĩ những ngôi mộ liệt sĩ dùng loại bia mộ bằng đá vì độ bền có nó rất cao, dù có hàng trăm năm thì cũng không làm phai dấu những thông tin được khắc trên đó. Để những ngôi mộ liệt sĩ chưa tìm được thân nhân có thể lưu trữ thông tin để tìm được gia đình sau bao năm không có tin tức. Mẫu bia đá trên lưng rùa Có lẽ đây là hình ảnh khiến chúng ta dễ dàng liên tưởng tới những tấm bia đá tại khu văn miếu quốc tử giám hoặc những khu đền thờ những anh hùng thời ảnh những chú rùa đội trên mai tấm bia đá ghi danh những người đã thi đỗ các kỳ thi khoa cử xưa kia tại Văn Miếu Quốc Tử Giám đã quá quen thuộc với các sĩ tử thời nay. Kế thừa và phát huy nét văn hóa sử dụng bia đá trên lưng rùa mà ngày nay tại các công trình nhà thờ họ, thờ tổ, nhà từ đường của các dòng họ lớn thường đặt những tấm bia đá trên lưng rừa để ghi danh những người có học hành cao, đỗ đạt trong các kỳ thi quốc giá. Những người có chức có quyền, nắm giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước. Mẫu bia mộ đá gia đình Là mẫu bia mộ làm bằng đá dành cho những người đã khuất trong gia đình, thường sẽ được đặt trước theo thông tin của người đã mất. Việc làm bia mộ bằng đá sẽ giúp ích rất nhiều trong việc lưu trữ thông tin qua nhiều đời, để con cháu đời sau nắm bắt được thông tin. 4. Vị trí đặt bia mộ đá đúng phong thủy, kích thước của bia mộ đá Thường vị trí đặt bia đá đều được xem xét trước khi đặt Thông thường với bia đá ghi danh, công đức sẽ đặt tại vị trí dễ nhìn thấy nhất để nhiều người nhìn vào noi gương. Còn với bia mộ gia đình bằng đá nên đặt tại vị trí trên đầu của phần mộ là đúng và hợp phong thủy nhất. Với những mẫu bia đá thì sẽ có nhiều kích thước khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng. Còn riêng với bia mộ đá phổ biến hiện nay thường làm với kích thước 19x22cm hoặc 22x25cm là phù hợp. Những ngôi mộ có kích thước lớn hơn có thể yêu cầu đặt bia mộ lớn hơn. 5. Kết luận Trên đây là những thông tin hữu ích về bia đá, bia mộ đá, tượng đá đẹp Xuân Mạnh hi vọng rằng đã phần nào giúp các bạn có thêm những hiểu biết về bia đá. Nếu bạn có nhu cầu làm bia đá, bia mộ đá hãy tới với cơ sở đá Xuân Mạnh tại làng nghề đá truyền thống Ninh Vân-Ninh Bình. Với nhiều kiểu dáng, mẫu mã, kích thước đa dạng thuận tiện cho khách hàng lựa chọn mẫu ưng ý nhất. Chúng tôi cung cấp dịch vụ trên toàn quốc, dù bạn ở bất cứ tỉnh thành nào, chỉ cần gọi tới số hotline đều được phục vụ tốt nhất. Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ qua số 0968 005 662 nghệ nhân Xuân Mạnh sẽ trực tiếp hỗ trợ giải đáp các thắc mắc và tiếp nhận đơn đặt hàng làm bia mộ đá của bạn.
Bài văn mẫu lớp 10Trăm năm bia đá vẫn mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ khuyên răn con người phải sống đẹp, sao cho khi đã mất, tiếng thơm vẫn còn mãi về sau, đừng sống thấp hèn để đến khi mất đi trên thế gian tiếng xấu mãi vẫn không phai mờ. Văn mẫu lớp 10 Giải thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” gồm các bài văn mẫu hay được VnDoc sưu tầm và giới thiệu cho các em học sinh tham khảo, củng cố kỹ năng cần thiết cho bài kiểm tra viết sắp tới đây của mình. Mời các em học sinh cùng tham khảo chi tiết và tải về bài viết tại đây ra, đã thành lập group chia sẻ tài liệu học tập THPT miễn phí trên Facebook Tài liệu học tập lớp 10. Mời các bạn học sinh tham gia nhóm, để có thể nhận được những tài liệu mới ý Giải thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” mẫu 11. Mở bàiGiới thiệu vấn đề cần nghị luận câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”.Lưu ý Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân Thân bàia. Giải thích“Bia đá vẫn mòn” Tấm bia đá cứng chắc, người ta khắc tên tưởng nhớ trên đó nhưng thời gian trôi qua tấm bia ấy bị bào mòn.“Bia miệng vẫn còn trơ trơ” có những sự việc, những tên tuổi của con người không khắc, không ghi vào bia nhưng vẫn còn mãi như mới hôm nào qua lời kể, lời truyền miệng của con người từ đời này sang đời ca dao khuyên nhủ con người ta bài học Phải sống đẹp, sao cho khi đã mất, tiếng thơm vẫn còn mãi về sau, đừng sống thấp hèn để đến khi mất đi trên thế gian tiếng xấu mãi vẫn không phai Phân tíchMỗi con người chỉ được sống một lần, chúng ta hãy sống với những hành động đúng đắn nhất để bản thân không phải hối tiếc và sau này để lại cho đời tiếng chúng ta sống đúng, sống đẹp, chúng ta sẽ được người đời yêu quý, kính trọng, tin tưởng, từ đó, tiếng thơm sẽ vang xa ngay cả khi con người ta còn tất cả co người trong xã hội đều sống đẹp, sống tốt thì xã hội này sẽ lan tỏa được những thông điệp tốt đẹp hơn, chúng ta sẽ có được môi trường sống tốt sống lỗi, sống sai không chỉ mang đến cho con người những tổn hại, sự day dứt trong tâm hồn, bị người đời xa lánh, mất niềm tin mà chúng còn để lại tiếng xấu ngay cả khi chúng ta lìa xa cõi Chứng minhHọc sinh tự lấy dẫn chứng về những con người sống đẹp, sống có ích để lại tiếng thơm cho đời để minh họa cho bài làm của ý dẫn chứng xác thực, nổi bật, tiêu biểu, được nhiều người biết Phản biệnTrong xã hội vẫn còn có nhiều người sống lỗi, chỉ biết đến lợi ích của bản thân mình mà không quan tâm đến người khác, sẵn sàng làm những việc xấu xa để trục lợi. Lại có những người cố ý tỏ ra tốt bụng, làm những việc che mắt người khác để được tin tưởng, trọng dụng,… những người này đáng bị xã hội thẳng thắn lên án, chỉ Kết bàiKhái quát lại vấn đề nghị luận câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản ý Giải thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” mẫu 21. Mở bàiGiới thiệu câu ca dao và khái quát ý nghĩa của câu ca dao Câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” mang ý nghĩa khuyên răn con người ta trong lời ăn tiếng nói2. Thân bài-Giải thích ý nghĩa của câu ca daoÝ nghĩa khuyên răn con người cần ăn nói có văn hóa Ăn nói có văn hóa đã trở thành một chuẩn mực trong giao tiếp xã hộiÝ nghĩa nhắc nhở về lối văn hóa giao tiếp ngày nay Câu ca dao không chỉ là lời nhắc nhở và cảnh tỉnh lối giao tiếp của chúng ta mà còn đề cập tới phong cách giao tiếp ngày nayÝ của lời ăn tiếng nói hàng ngày Những lời nói hàng ngày của chúng ta tuy đơn giản vậy thôi nhưng thực ra đều mang ý nghĩa lớn lao3. Kết bàiKhẳng định ý nghĩa của câu ca dao Câu ca dao có ý nghĩa sâu sắc và tác động mạnh mẽ tới ý thức văn hóa giao tiếp của người dân Việt mẫu Giải thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”Là con người sống trong xã hội, chúng ta cần phải sống sao cho đúng đạo làm người, đừng vì vật chất xa hoa làm hoen ố danh dự của mình, bởi “tiếng dữ đồn xa”, đã làm điều xấu thì không thể tránh khỏi miệng đời mai mỉa. Câu ca daoTrăm năm bia đá vẫn mònNgàn năm bia miệng vẫn còn trơ ca dao nêu lên một hiện tượng thường xảy ra trong cuộc sống Tấm bia đá kia rất cứng chắc, người ta khắc tên tưởng nhớ người thân trên bia. Nhưng thời gian trôi qua tấm bia ấy bị bào mòn và tên tuổi người xưa cũng mờ theo năm tháng. Nhưng có những sự việc, những tên tuổi của những con người không ai khắc tên, không ghi vào bia, mà việc ấy, những con người ấy vẫn còn mãi như mới hôm nào qua lời kể, lời truyền miệng của con người từ đời này sang đời khác. Bia miệng của người đời có giá trị thật lâu dài. Câu ca dao đưa lên vấn đề ấy nhằm nhắc nhở chúng ta một bài học Phải sống đẹp, sao cho khi đã mất, tiếng thơm vẫn còn mãi về sau, đừng sống thấp hèn để đến khi mất đi trên thế gian tiếng xấu mãi vẫn không phai nhắc nhở trong câu ca dao quý giá vô ngần. Từ xưa đến nay, vạn vật đều có sinh có tử, không ai bất tử bao giờ. Lúc còn sống, chúng ta có người giàu, kẻ nghèo, người tốt, kẻ dở, người hơn kẻ thua... Thế nhưng khi chết đi thì ai cũng chỉ có cái xác không hồn. Ta sẽ không còn gì về vật chất, thân xác mình sẽ trở về với cát bụi. Có còn chăng là mặt tinh thần, tiếng tăm của bản thân. Nếu chúng ta sống “đẹp” thì tiếng thơm lưu truyền mãi ngàn năm, sống “không đẹp” thì suốt đời tiếng xấu vẫn còn, bởi “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Đây cũng là quy luật tự nhiên. Nhìn lại những trang sử đã qua của dân tộc, chúng ta vô cùng tự hào trước lời nói hiên ngang bất khuất của Trần Bình Trọng “Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Càng tự hào kính phục những tấm gương anh hùng Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, ta càng thấy tức giận và hổ thẹn cho Lê Chiêu Thống với cái tiếng để đời “Cõng rắn cắn gà nhà”, rước giặc Thanh sang xâm chiếm nước ta, Nguyễn Ánh cầu viện thực dân Pháp, “rước voi giày mả tổ”. Hay Tự Đức “bế quan tỏa cảng” làm cho đất nước lạc hậu. Những con người ấy giờ đây thân xác đâu còn nữa mà miệng đời vẫn còn mãi không thôi. Những việc làm của họ để lại nỗi nhục cho dân tộc Việt Nam. Cho nên họ phải chịu sự phê phán, trách móc, lên án của người đời. sống ở trên đời tiền bạc của cải quả là quan trọng, có nó con người mới sống sung sướng đầy đủ. Nhưng cao hơn những thứ của cải quý giá là phẩm chất, danh dự của con người, là tiếng tốt để đời vĩnh cửu. “Cái cò” trong lời ca dao Con cò mà đi ăn đêm đã làm sáng lên tấm gương ấy. Trước cái chết cò con van xinCó xáo thì xáo nước trongĐừng xáo nước đục đau lòng cò conCò đã cố gắng muốn giữ sự trong sạch thanh cao cho cháu con tự hào về mình. Chúng ta, là con người, ắt phải biết suy nghĩ, biết nhận thức. Vậy ta “thà tốt danh hơn lành áo” để bia miệng của người đời nhắc đến ta bằng những lời tốt đẹp. Đó chẳng phải là gia tài quý có giá trị muôn đời cho con cháu hay sao? Câu ca dao thật sự là bài học sáng giá cho mỗi chúng suy nghĩ ta càng thâm thìa rằng câu ca dao là động lực giúp ta phát huy mặt tốt, hạn chế mặt xấu để ngày càng sống tốt đẹp hơn, xã hội, đất nước sẽ tiến bộ hơn. Do đó từ nhỏ ta phải xây dựng cho mình một lối sống đẹp, sống làm sao để khi trưởng thành và cả đến lúc chết đi mọi người còn nhớ đến ta với những điều tốt đẹp. Có như thế ta mới không hổ thẹn với con cháu sau này. Nếu ai cũng hiểu được như vậy thì xã hội sẽ ngày một tốt đẹp thêm ca dao là lời nhắn nhủ chân tình của người xưa đối với chúng ta. Càng nghĩ ta càng cố gắng rèn luyện mình tốt hơn. Phải sống sao cho khi chết đi không còn hối hận điều gì, bởi mình chưa sống đúng ý nghĩa của một con người. Ta phải sống tốt để không phải mang bia miệng làm tủi lòng ông bà, cha mẹ và cả con cháu sau thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” - Bài làm 2Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam ta đã được lưu giữ lại và truyền đời bằng những câu ca dao, tục ngữ hay lời ăn tiếng nói hàng ngày. Câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” mang ý nghĩa khuyên răn con người ta trong lời ăn tiếng nói hàng ngày phải biết ăn nói cho đúng chuẩn mực, bởi lời nói sẽ có ý nghĩa tới muôn nói có văn hóa đã trở thành một chuẩn mực trong giao tiếp xã hội, cách giao tiếp sao cho lịch sự sẽ tạo nên những ấn tượng sâu sắc cho mỗi người, và không chỉ có ý nghĩa ngay khi đó mà những giá trị của nó còn được lưu truyền sâu xa hơn nữa. Bia đá khi trải qua mấy nghìn năm sương gió cũng phải hao mòn đi nhưng những lời nói của chúng ta thì sẽ vẫn còn đó, tồn tại mãi mãi chứ không hao mòn hay mất đi. Chúng ta nên nói lời hòa nhã, hợp với lòng người chứ không nên tùy tiện văng ra những lời nói miệt thị, thiếu văn hóa, xúc phạm tới mọi cụ cũng có câu “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” là vì vậy, tránh gây cho người khác những tổn thương, mất mát hay khó khăn vì những lời nói của mình. Câu ca dao không chỉ là lời nhắc nhở và cảnh tỉnh lối giao tiếp của chúng ta mà còn đề cập tới phong cách giao tiếp ngày nay, trình độ học vấn ngày nay có thể cao hơn, nhưng trình độ về văn hóa giao tiếp có thể không bằng những thời trước. Chúng ta đang sống trong xã hội ngày càng hiện đại hóa, các công nghệ tiên tiết, thiết bị hiện đại đang là rào cản cho việc giao tiếp của chúng ta, chúng ta ngày càng ít giao tiếp bằng lời nói với nhau, điều đó làm hạn chế đi những kỹ năng giao tiếp khéo léo, cách ứng xử tế nhị của mọi dần chúng ta đang làm phai mờ đi những cách giáo dục về giao tiếp và đối nhân xử thế ở con trẻ, rồi lớn lên chúng có những kiểu giao tiếp không mấy thiện cảm với mọi người. Những lời nói hàng ngày của chúng ta tuy đơn giản vậy thôi nhưng thực ra đều mang ý nghĩa lớn lao, người dân Việt Nam ta thường quan trọng lời ăn tiếng nói, bởi vậy mới có câu “Học ăn, học nói, học gói, học mở” hay “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Chúng ta phải học hỏi, tiếp thu những cái hay, lời nói tốt đẹp để thu phục lòng người, tạo ấn tượng đẹp trong lòng mỗi người và để hình ảnh đẹp đó của mình được lưu truyền mãi về sau ca dao có ý nghĩa sâu sắc và tác động mạnh mẽ tới ý thức văn hóa giao tiếp của người dân Việt Nam, chúng ta cần trân trọng và coi đây là một bài học quý báu, nhắc nhở bản thân và mọi người, giáo dục con cái, hướng đến một xã hội Việt Nam với những lời nói tốt đẹp được lưu truyền và trường tồn mãi với thời thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” - Bài làm 3“Lời nói chẳng mất tiền muaLựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”Trong kho tàng văn học dân gian của Việt Nam ông cha ta để lại vô vàn những câu tục ngữ, ca dao để khuyên bảo và răn đe con người trong cách ăn nói, ứng xử, giao tiếp hàng ngày, người ta có câu “lời nói chẳng mất tiền mua/“lời nói chẳng mất tiền mua”, chẳng ai đánh thuế hay bắt ép bạn phải dùng tiền hay vật chất để mua lời nói, vì thế sao không dùng lời hay ý đẹp để nói với nhau, khi chết đi thân xác không còn với thời gian nhưng lời nói của bạn thì khiến người ta nhớ tới từ đời này sang đời bà ta có câu “trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” là câu tục ngữ khuyên răn chúng ta phải nói đúng chuẩn mực, bởi thông qua lời nói, cách giao tiếp, ứng xử của bạn là cách đánh giá phẩm chất, nhân phẩm của ăn nói của bạn chính là tiêu chuẩn để để đánh giá và bình phẩm về con người bạn. câu tục ngữ khuyên răn chúng ta phải ăn nói sao cho chuẩn mực, lịch sự, phù hợp với từng đối tượng và từng hoàn cảnh nhất đen của câu tục ngữ đó là qua trải qua hàng trăm năm của lịch sự, do yếu tố tự nhiên và khí hậu làm cho bia đá bị mòn và phai dần, còn những câu nói của bạn, dù trải qua hàng ngàn năm thì nó không bị mất đi mà còn tồn tại từ thời đại này sang thời đại khác. Nhưng đằng sau câu tục ngữ đó là cả một ý nghĩa sâu sắc, đó là khuyên răn chúng ta khi nói ra những lời nào thì hãy “uốn lưỡi 9 lần rồi nói” nghĩa là phải cân đo đem đếm xem phải nói với người khác như thế nào, bắt đầu ra sao, nên nói trong những trường hợp nào. Vì thế câu tục ngữ chính là lời dạy bảo con cháu ăn nói sao cho họp lòng người khác, không làm họ bị tổn thương, nhưng phải nói đúng sự thật, không được nói phét, nịnh hot, làm biến chất câu chuyện, nếu như thế chỉ làm cho họ thấy ghét bạn hơn mà thôi.“Tôm chết để hùm, người chết để tiếng”Khi chết đi con” tôm” thường để lại cái “hùm” của mình, đó là đặc tính và đặc điểm của loài này, còn con người khi chết đi con người không còn gì hết, tất cả được phân hủy, chỉ còn lời nói, tiếng tăm, hình ảnh của bạn là được người đời nhớ đến. Còn thân xác của bạn thì bị biến mất theo thời gian, nếu còn sống bạn ăn ở tốt và hiền lành thì khi chết đi, bạn được mọi người tôn trọng và tiếc nuối, ngược lại nếu còn sống bạn ăn ở độc ác, không coi trọng ai hết, khi chết đi bạn bị người đời chửi rủa và khinh tục ngữ giúp chúng ta thức tỉnh và nhận thức được tầm quan trọng của lời nói trong giao tiếp hằng ngày, một người có trí thức, được ăn học đàng hoàng và đầy đủ thì chắc chắn lời ăn tiếng nói của người ta cũng khác so với những người học thời đại công nghệ thông tin đang phát triển một cách rầm rộ như hiện nay, thay vì việc người ta giao tiếp, nói chuyện với nhau một cách trực tiếp thì giờ đây thông qua facbook, các trang mạng xã hội, con người có thể trò chuyện với nhau ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào mà không cần gặp mặt. Chính điều này đã làm mất đi tính chân thật và ý nghĩa thực sự của lời nói, nhưng cũng không thể phủ nhận sự quan trọng và hữu ích của công tục ngữ là bài học, là lời khuyên bảo mà ông cha ta muốn truyền đạt lại cho con cháu, dạy dỗ và thức tỉnh chúng ta phải ăn nói lịch sự, đoàng hoàng để mình vừa được tiếng mà người nghe cũng cảm thấy vui tai và hạnh phúc, lời nói có thêm bị thêm bớt khi truyền từ người này đến người kia, nhưng nhìn chung là xấu dần đều, vì thế khi nói vấn đề gì chúng ta hãy thật cẩn thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” - Bài làm 4Trong truyền thống của dân tộc ta đã có rất nhiều những câu tục ngữ nói về truyền thống tốt đẹp của dân tộc và nhiều câu cũng có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc, như lời ăn tiếng nói của con người, câu thơ trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ đã có ý nghĩa khuyên răn con người cần học ăn học nói cho đúng chuẩn mực bởi lời nói có ý nghĩa vang vọng và lưu truyền muôn câu tục ngữ trên đã có ý nghĩa khuyên răn con người cần ăn nói cho có văn hóa và đó là một lịch sự trong những cách giao tiếp của con người, những cách giao tiếp đó đã tạo nên những ấn tượng rất sâu sắc cho mỗi con người, nhiều hình ảnh của nó đã vang vọng và mang một ý nghĩa sâu xa. Câu thơ trên nghĩa đen muốn nói tới việc những bia đá trải qua mấy ngàn năm cũng bị mờ và phai nhạt màu đi, nhưng những câu nói từ miệng ra thì nó vẫn còn ở đó không bao giờ mất đi, những câu thư này ý nghĩa sâu xa muốn nhắn nhủ đến mỗi chúng ta cần ăn nói những lời nói hay và hợp lòng người không nên nói những lời nói làm tổn thương người khác, nó có thể sẽ là một điều mà khó khăn và làm cho con người bị mắc kiệt trong những lời nói đó vì vậy hãy nói những lời nói hợp với lòng người, không nên thích gì nói đấy các cụ xưa đã từng dạy phải uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói trên không chỉ giúp cho chúng ta cảnh tỉnh và thay đổi được cách giao tiếp của chính mình mà nó đã nhắc nhở chúng ta phần nào về lối văn hóa ngày nay, khi mỗi con người được học tập một cách nghiêm túc và đàng hoàng thì những lời nói được nói ra lại không bằng những con người ở những thời kì trước, trình độ học vấn của họ thấp hơn chúng ta nhưng cách họ nói chuyện tế nhị và thu hút được lòng người. Ngày nay khi xã hội này càng phát triển những công nghệ tiên tiến hiện đại đã làm cho con người bớt những giây phút giao tiếp miệng chủ yếu chúng ta thấy chát qua facebook, zalo, nhắn tin qua những phương tiện này nhiều dần dần sẽ làm cho chúng ta mất đi khả năng giao tiếp khéo néo, bởi chúng ta chỉ dùng những từ ngữ ngắn gọn và không có nội dung rõ ràng câu chuyện mang tính chất xã hội, trêu đùa nhiều hơn, chính vì vậy ngôn ngữ khoa học ít được sử dụng, ngày nay chúng ta thấy ở hầu hết những người học sinh, cách đối nhân xử thế và cách giao tiếp không thu phục được lòng đá cũng có thể mòn nhưng những lời nói mà chúng ta sẽ lưu truyền mãi mãi những lời nói hay sẽ được lưu truyền trong tâm trí của mỗi người đó là những khoảnh khắc tốt đẹp còn những lời nói cay độc khắc sâu tới con người tới vài trăm năm nó được truyền miệng từ người này sang đời khác có khi chết đi câu đó vẫ tiếp diễn được lưu truyền. Chính vì những yếu tố trên mà dân tộc ta đã có những câu tục ngữ đó, câu đó đã nhắc nhở chúng ta cần ăn nói cho có đạo đức, và nói những lời nói hay, nhiều câu tục ngữ cũng nói về vấn đề này, “lời nói không mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, hay là “ người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe”. Chính những điều đó đã làm cho mọi chúng ta ý thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ mà chúng ta nói ngôn ngữ hàng ngày chúng ta sử dụng có ý nghĩa rất lớn, người dân Việt Nam thường có câu “ học ăn học nói học gói học mở” chính vì vậy chúng ta phải học nói những ngôn ngữ hay và thu phục lòng người, chứ không phải chúng ta cứ nói ra thế là xong, tất cả đó là một nghệ thuật trong vấn đề giao tiếp, những câu đó đã tác động đến mỗi chúng ta khi ngôn ngữ và lời ăn tiếng nói hàng ngày có ý nghĩa rất lớn. Đối với một người khi nói những lời nói hay, và hợp tình hợp lý nó sẽ được mọi người biết đến rằng người đó nói hay và ăn nói dịu dàng. Ngược lại có những người chỉ nói những câu nói cục cằn không hay thì tất cả hai người đó khi mất đi vẫn mãi được lưu truyền nhưng người ăn nói nhẹ nhàng sẽ được ca ngợi, còn người kia bị phê phán sâu thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” - Bài làm 5Những câu tục ngữ luôn là những bài học đáng quý mà ông cha ta để lại cho đời sau. Câu tục ngữ trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ có ý nghĩa khuyên răn con người cần học ăn học nói cho đúng chuẩn mực bởi lời nói có ý nghĩa vang vọng và lưu truyền muôn truyền thống của dân tộc ta đã có rất nhiều những câu tục ngữ nói về truyền thống tốt đẹp của dân tộc và nhiều câu cũng có ý nghĩa giáo dục rất sâu sắc, như lời ăn tiếng nói của con người, câu thơ trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ đã có ý nghĩa khuyên răn con người cần học ăn học nói cho đúng chuẩn mực bởi lời nói có ý nghĩa vang vọng và lưu truyền muôn câu tục ngữ trên đã có ý nghĩa khuyên răn con người cần ăn nói cho có văn hóa và đó là một lịch sự trong những cách giao tiếp của con người, những cách giao tiếp đó đã tạo nên những ấn tượng rất sâu sắc cho mỗi con người, nhiều hình ảnh của nó đã vang vọng và mang một ý nghĩa sâu xa. Câu thơ trên nghĩa đen muốn nói tới việc những bia đá trải qua mấy ngàn năm cũng bị mờ và phai nhạt màu đi, nhưng những câu nói từ miệng ra thì nó vẫn còn ở đó không bao giờ mất đi, những câu thư này ý nghĩa sâu xa muốn nhắn nhủ đến mỗi chúng ta cần ăn nói những lời nói hay và hợp lòng người không nên nói những lời nói làm tổn thương người khác, nó có thể sẽ là một điều mà khó khăn và làm cho con người bị mắc kiệt trong những lời nói đó vì vậy hãy nói những lời nói hợp với lòng người, không nên thích gì nói đấy các cụ xưa đã từng dạy phải uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói trên không chỉ giúp cho chúng ta cảnh tỉnh và thay đổi được cách giao tiếp của chính mình mà nó đã nhắc nhở chúng ta phần nào về lối văn hóa ngày nay, khi mỗi con người được học tập một cách nghiêm túc và đàng hoàng thì những lời nói được nói ra lại không bằng những con người ở những thời kì trước, trình độ học vấn của họ thấp hơn chúng ta nhưng cách họ nói chuyện tế nhị và thu hút được lòng người. Ngày nay khi xã hội này càng phát triển những công nghệ tiên tiến hiện đại đã làm cho con người bớt những giây phút giao tiếp miệng chủ yếu chúng ta thấy chát qua facebook, zalo, nhắn tin qua những phương tiện này nhiều dần dần sẽ làm cho chúng ta mất đi khả năng giao tiếp khéo néo, bởi chúng ta chỉ dùng những từ ngữ ngắn gọn và không có nội dung rõ ràng câu chuyện mang tính chất xã hội, trêu đùa nhiều hơn, chính vì vậy ngôn ngữ khoa học ít được sử dụng, ngày nay chúng ta thấy ở hầu hết những người học sinh, cách đối nhân xử thế và cách giao tiếp không thu phục được lòng ngườiBia đá cũng có thể mòn nhưng những lời nói mà chúng ta sẽ lưu truyền mãi mãi những lời nói hay sẽ được lưu truyền trong tâm trí của mỗi người đó là những khoảnh khắc tốt đẹp còn những lời nói cay độc khắc sâu tới con người tới vài trăm năm nó được truyền miệng từ người này sang đời khác có khi chết đi câu đó vẫ tiếp diễn được lưu truyền. Chính vì những yếu tố trên mà dân tộc ta đã có những câu tục ngữ đó, câu đó đã nhắc nhở chúng ta cần ăn nói cho có đạo đức, và nói những lời nói hay, nhiều câu tục ngữ cũng nói về vấn đề này, “lời nói không mất tiền mua lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, hay là “ người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe”. Chính những điều đó đã làm cho mọi chúng ta ý thức được tầm quan trọng của ngôn ngữ mà chúng ta nói ngôn ngữ hàng ngày chúng ta sử dụng có ý nghĩa rất lớn, người dân Việt Nam thường có câu “ học ăn học nói học gói học mở” chính vì vậy chúng ta phải học nói những ngôn ngữ hay và thu phục lòng người, chứ không phải chúng ta cứ nói ra thế là xong, tất cả đó là một nghệ thuật trong vấn đề giao tiếp, những câu đó đã tác động đến mỗi chúng ta khi ngôn ngữ và lời ăn tiếng nói hàng ngày có ý nghĩa rất lớn. Đối với một người khi nói những lời nói hay, và hợp tình hợp lý nó sẽ được mọi người biết đến rằng người đó nói hay và ăn nói dịu dàng. Ngược lại có những người chỉ nói những câu nói cục cằn không hay thì tất cả hai người đó khi mất đi vẫn mãi được lưu truyền nhưng người ăn nói nhẹ nhàng sẽ được ca ngợi, còn người kia bị phê phán sâu câu nói đó đã tác động mạnh mẽ đến những ý thức của con người Việt Nam, chúng ta cần phải coi câu tục ngữ trên là một bài học quý báu để nhắc nhở bản thân cần nói những ngôn ngữ hay và hợp lòng người, những lời nói của chúng ta nói ra sẽ dai dẳng đến thời gian dài vì vậy hãy cẩn thận với những gì mà mình nói vừa giới thiệu tới các bạn 3 bài văn mẫu về giải thích câu ca dao Trăm năm bia đá vẫn mòn, Ngàn năm bia miêng vẫn còn trơ trơ. Qua đây bạn đọc có thể hiểu được nội dung của câu ca dao và nắm được những ý chính để xây dựng bài viết cho mình. Bạn đọc cần khái quát được nội dung ý nghĩa của câu ca dao. Trăm năm bia đá vẫn mòn, nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” mang ý nghĩa khuyên răn con người ta trong lời ăn tiếng nói. Câu ca dao khuyên răn con người ta cần ăn nói có văn hóa Ăn nói có văn hóa đã trở thành một chuẩn mực trong giao tiếp xã hội. Nhắc nhở mọi người về văn hóa giao tiếp ngày nay, câu ca dao không chỉ là lời nhắc nhở và cảnh tỉnh lối giao tiếp của chúng ta mà còn đề cập tới phong cách giao tiếp ngày nay. Những lời nói hàng ngày của chúng ta tuy đơn giản vậy thôi nhưng thực ra đều mang ý nghĩa lớn lao. Câu ca dao muốn nói với chúng ta rằng phải sống đẹp, sao cho khi đã mất, tiếng thơm vẫn còn mãi về sau, đừng sống thấp hèn để đến khi mất đi trên thế gian tiếng xấu mãi vẫn không phai mờ. Mong rằng qua đây bạn đọc có thêm nhiều ý tưởng và tài liệu để viết bài văn cho riêng mình đây VnDoc đã tổng hợp các bài văn mẫu Giải thích câu ca dao “Trăm năm bia đá vẫn mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ” cho các bạn tham khảo ý tưởng khi viết bài. Ngoài ra các bạn có thể xem thêm chuyên mục Soạn văn 10 mà VnDoc đã chuẩn bị để học tốt hơn môn Ngữ văn lớp 10 và biết cách soạn bài lớp 10 các bài trong sách Văn tập 1 và tập 2. Đồng thời các dạng đề thi học kì 1 lớp 10, đề thi học kì 2 lớp 10 mới nhất cũng sẽ được chúng tôi cập nhật. Mời các em học sinh, các thầy cô cùng các bậc phụ huynh tham giúp bạn đọc có thể giải đáp được những thắc mắc và trả lời được những câu hỏi khó trong quá trình học tập. mời bạn đọc cùng đặt câu hỏi tại mục hỏi đáp học tập của VnDoc. Chúng tôi sẽ hỗ trợ trả lời giải đáp thắc mắc của các bạn trong thời gian sớm nhất có thể nhé.
bia đá vô tri giờ đây có nghĩa gì đâu